Wednesday, June 30, 2021

Khải Tĩnh 3

 Cởi Hài Tục Luỵ

Vầng trăng cổ độ, khuất mù sương
Hồn khách tơ giăng giấc mộng trường
Rủ áo phong trần về Cố Quận
Cởi hài tục luỵ ẩn Sơn Phương
Giang hồ khúc nhạc thôi trăn trở
Bí sử ngôn tình chẳng vấn vương
Bến nước bây chừ in bóng nguyệt
Nghìn thâu, vạn thuở tợ đài gương!
Cô Vân Sơn Liêu
15/08/2016
 
Hải Triều Âm
Nước mây mộng ảnh đốm phù trầm
Sương khói huyễn tình buốt lạnh câm
Giữa cuộc thế khơi vầng nguyệt đức
Cõi hồng trần khắc mảnh băng tâm
Pháp như lôi vũ nào hoen nhớp
Đạo tợ tuyết liên chẳng bợn lầm
Tuế lĩnh bát phong thiên địa ngạo
Thạch đầu hư vọng hải triều âm.
 
Cợt Tử Sinh
Nhất thanh viễn thế tiếu sơn đình
Ngạo khúc vô thường cợt tử sinh
Vẫn biết phù vân tam giới mộng
Lại mơ phong nguyệt tứ phương tình
Yên hà sương khói sầu nhân ảnh
Cổ độ nước mây ố sắc hình
Tri kiến chập trùng bao ảo vọng
Tro tàn tưởng thức hóa hư linh.
 
Tình Vô Lượng
Viễn xứ sương khuya đọng gót hài
Y sờn gió lạnh buốt bờ vai
Tàng kinh, thiền ngữ luôn trăn trở
Mật hạnh, đạo tâm vẫn miệt mài
Nhớ lại thềm xưa chờ nắng tắt
Mơ về núi cũ ngắm mưa bay
Đệ huynh pháp lữ tình vô lượng
Cốt nhục keo sơn nghĩa tháng ngày.
 
Tam Thiên Mộng
Nhất bát tam y cửa Phật nương
Tăng nhân tự cổ liễu vô thường
Chợ đời ảnh sắc nào mê luyến
Lầu các ngôn tình chẳng lụy vương
Ước muốn trăm năm, hòa cát bụi
Mong cầu một kiếp, hóa tro xương
Trần lao khổ ách tam thiên mộng
Huyễn thế phù sinh nỗi thống trường!
 
Chí Sơn Tăng
Có những đêm buồn nhớ ánh trăng
Nơi lều hoa nhỏ khói sương giăng
Tình Thầy kinh pháp, ân vô lượng
Nghĩa đệ văn thi, lửa hữu hằng
Lý đạo thượng cầu, duyên ẩn sĩ
Nhân tâm hạ hóa, chí sơn tăng
Xuất trần đâu ngại đời dâu bể
Đại nguyện sá gì cách trở ngăn.
 
Trăng Hàn Xứ
Cuộc lữ mù phương gió bụi vờn
Hành vân vạn lý biệt trùng sơn
Nhìn đời hoa lệ tâm không đổi
Sống cảnh gian lao chí chẳng sờn
Đất khách tận cùng niềm quạnh vắng
Quê người sâu thẳm nỗi cô đơn
Trà khuya ngồi ngắm trăng hàn xứ
Sương ướt tăng bào lạnh buốt hơn.
 
Trăng Đáy Nước
Sức nhược thân gầy, tóc bạc sương
Thịnh suy tuế nguyệt, lẽ vô thường
Đời như nắng hạ lò nhen lửa
Đạo tợ hoa xuân gió thoảng hương
Cuộc thế mộng trần trăng đáy nước
Dung nhan huyễn sắc ảnh trong gương
Phàm tâm nhát cuốc vùi chân núi
Pháp lữ muôn đời chí nhất phương.
 
Mộng Tiêu Tương
Trần thế dệt chi giấc nguyệt hường
Để sầu bến nước mộng tiêu tương
Người đi trăn trở lời ly biệt
Kẻ ở trọc trằn nghĩa vấn vương
Cạn chén trà khuya khơi nỗi nhớ
Gieo vần thơ muộn gợi niềm thương
Biến kinh phúc chúc đời suôn sẻ
Cửa đạo tình ta nguyện hóa sương!
 
Trầm Sinh Tử
Mộng lĩnh tiêu du gót bụi trần
Thiên nhai chiết bút, ẩn sơn vân
Ướp trà cổ nguyệt chờ tri kỷ
Ủ nhụy tuyết liên đợi cố nhân
Vẫn nhớ tình xưa sâu vạn trượng
Nào quên nghĩa cũ nặng ngàn cân
Hẹn nhau vượt ách trầm sinh tử
Bè cỏ qua bờ, liễu huyễn, chân!
 
Cổ Thiên Sầu
Mộng thuyết hý đàm dụng ý sâu
Mê ngôn huyễn ngữ, cổ thiên sầu
Chợ đời lãng tử say phong nguyệt
Nẻo tục giai nhân đắm bể dâu
Cửa đạo gìn tâm, không ước muốn
Am thiền giữ niệm, chẳng mưu cầu
Thế tình bát nháo ngàn xưa vậy
Un khói vào sương mắt đục ngầu!
 
Hữu Ý Vô Ngôn
Chẳng biết nơi nào chốn lập thân
Y sờn gót mỏi ngại phong trần
Tầm long trích huyệt còn chờ mãi
Hạ thổ trấn sơn cứ hẹn dần
Mộng mái am tranh, đời dị giản
Mơ lều hoa cỏ, đạo thanh bần
Khơi niềm tự sự cùng trăng nước
Hữu ý vô ngôn, nặng nghĩa nhân.
 
Phù Sinh Mộng (mùa Covid)
Cửa khép, then cài, phố vắng tanh
Tai ương dịch bệnh vụt tăng nhanh
Nhọc nhằn cơm áo, đời xoay xở
Chật vật gạo tiền, khổ quẩn quanh
Thân tợ đèn khuya treo trước gió
Của như sương sớm vỡ bên mành
Vô thường hiện hữu phù sinh mộng
Thiện pháp trong tâm dữ hóa lành!

Nỗi Quan San
Giông bão mù phương, tổ vỡ đàn
Chạnh buồn viễn xứ, nỗi quan san
Tìm về chốn cũ, khơi dòng lệ
Ngắm lại cảnh xưa, thắt ruột gan
Hoa cỏ chơ vơ, sầu héo úa
Khói mây hiu hắt, lạnh điêu tàn
Đệ huynh tình nghĩa, đời muôn hướng
Chí đạo thượng cầu, chẳng thở than!
 
Mặc Kệ Đi
Trăm mối sầu vương bởi tại vì
Niệm trần chấp thủ vọng cuồng si
Nhân tình xa cạ bao cay nghiệt
Thế thái xô bồ lắm thị phi
Luồn cúi mưu danh, tâm tủi nhục
Lọc lừa trục lợi, khổ sầu bi
Chợ đời vốn dĩ trò hư ngụy
Tục sự tuồng hề, mặc kệ đi!
 
Nghĩa Cố Tri
Trà khuya viễn xứ trở trăn gì
Có lẽ nặng lòng nghĩa cố tri
Mái lá chùa xưa luôn gợi nhớ
Vần thơ núi cũ mãi hoài ghi
Hoa sầu trụi úa, quay lưng bước
Tình cỗi héo khô, ngoảnh mặt đi
Thương, ghét, giận, hờn, thôi bỏ lại
Khứ lai vô sự, gót nhàn vi.
 
Vọng Hẩu Âm
Bỏ lại xuân thanh ẩn cổ lâm
Tiệm tu, sám tạ, hối mê lầm
Ái hà vô lượng sầu thiên xích
Khổ hải hằng sa lụy vạn tâm
Nguyệt ảnh, bóng nhòa trần viễn lạc
Hoa tình, hương nhạt mộng miên trầm
Cô phong thiền sĩ ươm mầm đạo
Thi khú vô thanh vọng hẩu âm
 
Nỗi Lai Sinh
Trà không phải rượu vậy mà say
Có phải lòng ta muốn giải bày
Xỏ sợi chỉ tình, khâu nỗi nhớ
Chuốt nan mành đạo, thắt niềm vay
Mảnh trăng tiền kiếp mây che khuất
Thân thế lai sinh vết đọa đày
Khổ ải trầm khê nào đáng sợ
Chỉ sầu nhân thế quá bi ai!
 
Cổ Miên Sầu
Tam sinh bất toại cổ miên sầu
Cạn chén vong tình ẩn núi sâu
Phong ấn ngàn năm nơi đáy mộ
Hàn tâm triệu kiếp chốn nương dâu
Tim khô hóa đá trơ canh vắng
Máu nhạt hòa xương lạnh bóng thâu
Nhân ngã thị phi xin đoạn tuyệt
Chuyện đời con nước chảy qua cầu!
 
Nét Nguyệt Thần
(Gửi Tặng Cố Nhân)
Nhẹ nhàng tuyệt thế gót nhàn vân
Thiên sắc dung nhan nét nguyệt thần
Thanh khiết như sương, lòng thoát tục
Dịu dàng tợ nước, dáng ly trần
Ái tình chẳng lụy, tâm hòa ý
Ố dục nào vương, đạo giữ thân
Dị giản hồn nhiên, ươm ngữ hạnh
Nụ cười nhược mộng đẹp vô ngần.
 
Chí Ngàn Dâu
Phương trời vô định biết về đâu
Chẳng lẽ lang thang tới bạc đầu
Một kiếp ba đào trần viễn mộng
Vạn đời kiềm tỏa khổ miên sầu
Xé màn tục lụy, vùi non thẳm
Cắt sợi ái tình, quẳng vực sâu
Sỏi đá chông gai nào ngại bước
Tăng nhân gánh đạo chí ngàn dâu.

Cởi Hài Tục Luỵ
Vầng trăng cổ độ, khuất mù sương
Hồn khách tơ giăng giấc mộng trường
Rủ áo phong trần về Cố Quận
Cởi hài tục luỵ ẩn Sơn Phương
Giang hồ khúc nhạc thôi trăn trở
Bí sử ngôn tình chẳng vấn vương
Bến nước bây chừ in bóng nguyệt
Nghìn thâu, vạn thuở tợ đài gương!
Cô Vân Sơn Liêu

Gác Phong Trần...
Ven phố chợ lạc bước người
Tìm đâu trong gió nụ cười cố nhân
Về bến vắng gác phong trần
Chợt nghe con nước phân vân lệ trào...
 
Thế tình con nước đầy vơi
Xả buông vô sự giữa đời sắc không
Câu kinh bối diệp nguồn trong
Liễu tri như thực vô mong vô sầu
Tuổi xanh hành cước bạc đầu
Trăm năm cuộc mộng qua cầu đánh rơi...
 
LỀU HOA ẨN SĨ
Lên non gác lại chuyện đời
Gối đầu vách đá, bên trời cô liêu
Mặc cho thế sự trăm điều
Nằm nghe hơi thở, nắng chiều nhẹ buông
Nhân tình men đắng si cuồng
Ta về suối vắng ươm nguồn nước trong
Cố nhân, nghĩa nặng tình nồng
Canh khuya khơi ngọn nến hồng ngày qua
Thảo am mây tía la đà
Tri âm chiếc bóng nguyệt tà cuối thu
Giọt buồn hóa kiếp sương mù
Đường xưa lối cũ hoang vu nẻo về
Biển dâu chìm nổi ê chề
Hỏi chi sóng bạc lời thề xa xăm
Dặm trường viễn xứ bao năm
Cuộc người giả mộng tơ tằm mỏng manh
Đêm tàn gà gáy xao canh
Trăng lem mái lá phên tranh gió lùa
Bâng khuâng,khói biếc, chuông chùa
Lều hoa ẩn sĩ bốn mùa say trăng...
 
Sương Tan Miền Cổ Độ...
Muôn sự vương mang vạn khổ sầu
Nghiêng vai trút gánh thả sông sâu
Neo thuyền bến giác, tâm thôi lụy
Gác mái bờ không, ý chẳng cầu
Công án về nguồn soi lối cũ
Thoại đầu vào chợ rọi đêm thâu
Triều âm sóng vỗ yên lòng núi
Cổ độ sương tan liễu đạo mầu
 
Quy Nguyên...
Tánh giác muôn đời vẫn sáng trong
Nương thuyền tam bảo, vượt ngàn sông
Hành trì định,tuệ-trăm đường tỏ
Chuyển hóa tham,ưu-vạn nẻo thông
Diệu pháp rền vang, nghe ý đạo
Huyền cơ sâu thẳm, thấy tâm không
Non cao sương tuyết, lòng an tĩnh
Y bát chân truyền rạng chánh Tông

Lỗi Hẹn
Chiều mưa bến nước sầu giăng
Khói sương vương vấn thuyền trăng não nề
Đạo thiền soi lối ta về
Xin đành lỗi hẹn ước thề ngàn xưa 

Cố Nhân Tình
Then cài rêu phủ tơ vương
Nhàn vân một cõi non sương ủ tình
Liễu cành sầu rũ trang Kinh
Tương tư canh mộng bóng hình cố nhân
 
CHÍ NGUYỆN
Em đi lưu lạc quê người
Chút tình viễn xứ nụ cười cố hương
Đường xa chốn cũ mờ sương
Hoa rơi lối nhỏ mà vương bóng hình
Bao đêm phố lạ một mình
Ngộ đời bèo nước lục bình trôi sông
Phủi tay rủ bụi bên dòng
Mưa nguồn đã tạnh nắng hồng ướm môi
Đó chiều cánh nhạn xa rồi
Trăm năm cuộc lữ mấy hồi nhớ nhung
Hạnh xưa chí lớn nghìn trùng
Tha phương học đạo tương phùng ngày sau
Rồi mai cùng bắt nhịp cầu
Tử sinh gieo hạt đạo mầu mến thương
Áo đại bi, khoác muôn phương
Đóa trăng tri ngộ chân thường đợi em !
 
Huế Tự Tình
(Nhớ Huế rồi.. Huế ơi.....)
Huế mình đền quách rêu phong
Mưa buồn hiu hắt, xiêu lòng người xa
Con đường, ngõ phố ngày qua
Rắc đầy nỗi nhớ tình ta với người
Dòng Hương in bóng mây trời
Tràng Tiền lưu dấu sự đời vấn vương
Đò chiều bến Ngự thân thương
Hà Khê cánh nhạn cõng sương tìm về
Thanh Toàn cầu ngói sông quê
Trúc vàng Vĩ Dạ bờ đê gió lùa
Hoàng Thành trầm mặc bao mùa
Nam Giao hoài cổ chuông chùa ngân vang
Huyền Không góc núi ven làng
Thơ đề khóm đá ngỡ ngàng cảnh tiên
Suối trăng uốn lượn quanh triền
Nắng hờn e ấp mấy miền thiên xanh
Từ Đàm khói biếc quyện mành
Trúc Lâm tĩnh lặng non xanh ấm nồng
Lão ngư gác mái chèo không
Đêm nghe Linh Mụ vọng đồng lời Kinh
Người đi cách mấy dặm trình
Con nghe tiếng gọi đậm tình Huế thương!
 
Cà Phê Phố Đông...
Sài thành phố rét sầu đông
Tinh sương quán vắng gót hồng thoáng qua
Cà phê nhỏ giọt tình ta
Chớm nghe tim lạnh sát na luân hồi
 
Ẩn Sĩ Non Ngàn
Con tim ẩn sĩ non ngàn
Rêu phong gót lạnh cung đàn lãng quên
Nguyệt tình khúc phổ không tên
Phù luân nhược mộng rơi bên hiên thiền..

Chờ Người...
Chờ người thức trắng đêm thâu
Dưới trăng đứng đợi bên cầu nhân sinh
Sông khuya sương nước tự tình
Chợt nghe sóng vỗ giật mình nhớ nhau...
 
Cô Liêu...
Một mình góc núi cô liêu
Kệ Kinh thiền tọa sớm chiều làm vui
Chút tình xưa , sót lại gùi
Gom ra nhem lửa bùi ngùi nhớ thương
 
Trăn trở...
Trà khuya trăn trở cội nguồn
Nghe lòng canh cánh nỗi buồn tử sinh
Nợ duyên kiết sử trói mình
Thương em từ độ câu Kinh quên lời... 

Hương Xuân...
Tách trà còn đọng hương xuân
Hoàng mai vẫn nở, cố nhân nơi nào
Vần thơ năm cũ người trao
Vàng theo nỗi nhớ dạt dào chốn xưa.

ĐẦU ĐÀ
Rừng khuya dưới ánh trăng rằm
Đầu đà thọ nguyện lặng thầm sơn khê
Mới hay sinh tử sự hề
Cửa không gở mối ước thề trầm luân.
 
Mảnh Dư Dung...
Người đi khuất nẻo tà dương
Sau lưng bỏ lại con đường nhớ nhung
Ta về níu sợi tương Phùng
Vén mây tìm mảnh dư dung thuở nào .
 
Tình Là Phù Vân...
Bao mùa nhớ, bấy nẻo vương
Trùng phùng mấy bận, vô thường chia xa
Duyên dù nhiều, cũng phôi pha
Nhân gian cửu biệt, tình là phù vân.
 
Chợ Đời...
Chợ đời bán lợi mua danh
Đong, đo, cân, đếm, tranh giành hơn thua
Trăm năm biết được mấy mùa
Vô thường bỏ lại sân chùa lá rơi.
 
Bình An Em Nhé...
Giọt tâm mỏng mảnh vô thường
Nhân tình chóng vánh như sương đầu cành
Mặc đời dâu biển chòng chành
Bình an em nhé bại thành hơi đâu.
 
Tìm Chi Em...
Tìm chi em giữa kiếp người
Phù hoa mộng mị, tình đời mong manh
Khổ sầu được-mất quẩn quanh
Vọng cầu bắt bóng hư danh được gì?

LẤY GÌ TẶNG EM
Đời tu bình bát lá y
Ngoài trang Kinh cũ có gì đâu em
Chút tình mọn, chẳng ai thèm
Còn câu thơ vụn, gói đem làm quà.
 
Hoa Tình Mẹ
Tiếng đời nặng nhẹ đắng cay
Từng cơn khó nhọc chất đầy lo toan
Mặc cho năm tháng hao mòn
Hoa Tình Mẹ nở trong con vĩnh hằng.
 
NHỚ TÊN MỘT NGƯỜI
Có chàng du sĩ mộng mơ
Trà khuya góc núi đợi chờ trăng lên
Tưởng chừng năm tháng lãng quên
Ngờ đâu canh vắng nhớ tên một Người. 

TRÓT YÊU
Trót yêu gió núi mây ngàn
Làm sao nhớ nỗi cung đàn phố xa
Một mai người ghé thăm ta
Để còn biết được mình là cố nhân.
 
HỌA ĐỜI
Lẻn về phố học vẽ tranh
Rồi khuya non vắng tập tành đề thơ
Bút thiền xuyến chỉ dăm tờ
Họa đời tải đạo qua bờ sông mê. 

VỌNG CỐ NHÂN
Ngõ trúc am tranh khí lãng vân
Chờ người thi khách gác phong trần
Cô liêu góc núi tình trăm mối
Hoang vắng hiên mây nghĩa bội phần
Viết dăm con chữ thêu ý đạo
Họa mấy vần thơ dệt tâm chân
Hoa tàn cội cũ nào quên lối
Nâng chén trà khuya vọng cố nhân.

Mình Ta Nhớ Người
Những hoài niệm chỉ là cảm xúc
Bao nỗi buồn có lúc sẽ qua
Còn đây nốt nhạc hương trà
Để chiều nhân thế mình ta nhớ người. 

Tuesday, June 8, 2021

Trần Trung Đạo 3

 

NẾU QUÊ HƯƠNG LÀ MẸ, AI SẼ LÀ CHA?

(Trần Trung Đạo)

 

Tôi là một trong hằng triệu Người Lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, chống lại cuộc xăm lăng do Cộng Sản gây ra. Trong bang giao quốc tế, quốc gia này đánh chiếm quốc gia kia, không có tên gọi nào khác ngoài hai chữ “xâm lăng”. Ngày cuối tháng 4/75 chúng tôi thua trận bởi sự phản bội của Đồng minh, chúng tôi bị Cộng sản Việt Nam đày đọa trong hằng trăm nhà tù mà Cộng Sản gọi là Trại cải tạo tập trung. Người 1 năm, 5 năm, 10 năm, thậm chí 17 tù năm ròng rã.

Giờ đây, Quân Lực mà tôi phục vụ không còn nữa, nhưng linh hồn của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vẫn nguyên vẹn trong tôi.

Tôi là Người Lính thua trận, nhưng tôi rất hãnh diện vì được phục vụ Tổ quốc , phục vụ cho chính nghĩa quốc gia với tư cách một công dân trong thời chiến để bảo vệ Dân chủ Tự do.

*****************************************

Quê hương mỗi người chỉ một
Như là chỉ một Mẹ thôi
Quê hương nếu ai không nhớ
Sẽ không lớn nổi thành người.

Đó là bốn câu kết trong bài thơ Bài Học Đầu Cho Con của nhà thơ Đỗ Trung Quân. Đỗ Trung Quân là một nhà thơ trẻ, sinh ra và lớn lên ở miền Nam, cùng thế hệ với tôi. Sau 1975 tôi thường nghe giới sáng tác gọi anh ta là nhà thơ thanh niên xung phong vì nghe đâu anh có đi thanh niên xung phong thì phải.

Trước hết, tạm thời loại bỏ yếu tố thời gian và không gian trong bài thơ để chỉ đọc bài thơ bằng một cảm xúc chủ quan. Bài thơ rất cảm động, mặc dù chỉ bốn câu chót mà tôi vừa trích dẫn được gọi là rất hay còn những đoạn khác, thật ra, chỉ là để dọn đường cho kết luận “Quê hương nếu ai không nhớ, sẽ không lớn nổi thành người” của anh. Thế nào là thơ hay, thế nào là thơ dở cho đến nay vẫn còn là một vấn đề tranh cãi. Mỗi nhà thơ đều có quan niệm riêng của họ về sáng tác và về nghệ thuật. Do đó, mỗi nhà thơ hay mỗi trường phái của những người làm thơ, có một định nghĩa riêng về thơ hay, thơ dở. Hỏi cụ Cao Tiêu thì có thể cụ không trả lời giống như khi hỏi nhà thơ Du Tử Lê.

Theo tôi, thơ hay là thơ phải sống, phải có tâm hồn, phải trong sáng, phải có tư tưởng, có chiều sâu, phải nói lên một cái gì đáng nói. Bốn câu thơ của Đỗ Trung Quân hội đủ điều kiện theo quan điểm riêng của cá nhân tôi. Thơ anh trong bài nầy rất bình dị, nhẹ nhàng nhưng sâu sắc. Đọc bốn câu của Đỗ Trung Quân, dù bạn đang làm bất cứ chuyện gì cũng phải dừng lại một chốc lát để suy nghĩ về mẹ, về quê hương, đất nước.

Khi đọc bài thơ Bài Học Đầu Cho Con của Đỗ Trung Quân lần đầu cách đây khá lâu, tôi xúc động lắm. Tôi ra ngồi một mình trên chiếc ghế đá dọc bờ biển Boston. Trong khoảnh khắc bàng hoàng đó, bài thơ mang tôi đã trở về quê hương. Tôi thấy mình đang đứng nghe tiếng nước vỗ bên chân cầu Vĩnh Điện. Tôi thấy mình đang tinh nghịch ngồi chễm chệ trên cây khế sau vườn. Hồi xưa cây khế sinh trái chua lắm nhưng hôm đó bỗng dưng trở thành ngọt lịm. Tôi thấy mình đang thả diều trên đồi cỏ, giữa rừng sim tím ngắt với cô bạn gái học trò lớp bảy. Không giống như ngày nào tôi là cậu bé rụt rè nhút nhát, hôm ấy tôi bạo dạn hơn nhiều. Hình như tôi còn dám cầm tay cô bé nữa, chỉ có điều tôi vẫn không dám nói những điều tôi hằng muốn nói.

Quê hương tôi đẹp lắm. Sông Thu Bồn, cầu Thủy Tú, bãi Mỹ Khê, hòn Non Nước, núi Ngũ Hành, đèo Hải Vân, động Thiên Thai, phố Hội An, thành Đà Nẵng, v.v… Chao ôi, chỉ cái tên thôi đã nghe rung động lòng người. Và những người con gái của quê hương tôi cũng đẹp hơn con gái của bất cứ một nơi nào mà tôi đã đi qua. Đồng bào tôi sống bằng nghề dệt vải, dệt lụa nên đàn ông con trai thì thường mặc áo quần may bằng vải, gọi là vải nội hóa hay vải ta, và đàn bà con gái thì mặc áo quần may bằng lụa. Một lần ở trường Trần Quý Cáp, Hội An, bọn chúng tôi trai gái cùng đi học về thì chẳng may trời đổ mưa như tát nước. Chiếc áo dài bằng lụa mỏng đã vô tình đồng lõa một cách tội lỗi với cơn mưa để phơi bày thân thể của cô bạn học. Hình ảnh dễ thương tuyệt vời đó đã đọng lại trong thơ tôi:

Em về phố cũ chiều mưa lớn
Vóc ngọc ngà phơi dưới lụa hồng
Ta như giọt nước mùa mưa ấy
Đã cuốn trôi về trăm nhánh sông
(Mưa Phố Hội, thơ Trần Trung Đạo)

Và dĩ nhiên trên chiếc ghế đá bên bờ biển Boston, tôi cũng gặp lại người đàn bà đã mang tôi vào cuộc đời nầy, đã dạy tôi làm thơ và dạy tôi thương yêu nhân loại. Mẹ tôi cười. Mẹ tôi ăn trầu nên khi cười hàm răng của bà đen lánh. Da mặt nhăn nheo theo cuộc đời vất vả của bà nhưng đôi mắt vẫn chứa đầy những tinh anh và hiền dịu. Lâu lắm rồi tôi mới thấy mẹ cười.

Ví mà tôi đổi thời gian được
Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.

Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười. Câu thơ tôi viết năm nào thay cho lời cầu nguyện mãi tới hôm đó tôi mới biết quả là linh nghiệm vì mẹ tôi đã cười.

Nhớ lại trước ngày ra đi, tôi mướn xích lô từ ngoài cửa sông Sài Gòn chạy về thăm mẹ lần cuối trong cơn mưa tầm tã. Mẹ tôi lấy khăn lau khô mái tóc cô hồn dài gần tới vai của tôi, vừa mắng nhẹ: “Qua đó không biết ai mà nhắc con đi hớt tóc mỗi tháng đây nữa”. Tôi thật là tệ. Không nói với mẹ điều gì ngoài ba tiếng “con đi nghe”. Chỉ có thế rồi tôi đi. Tôi đi xa quê hương mang tâm trạng của một kẻ bị đuổi xô, khinh rẻ hơn là tâm trạng của một kẻ đang đứng trước một chọn lựa đớn đau đầy luyến tiếc. Tôi không có chọn lựa nào cả, chỉ mong đi cho lẹ, chạy cho xa. Đi không ngoảnh mặt nhìn mẹ lần cuối, không kịp vuốt tóc đứa em đang khóc rưng rức sau nhà. Lẽ ra hôm đó tôi phải ôm hôn giã từ mẹ hay xin một chiếc áo cũ của bà để mỗi đêm trên xứ người còn nghe lại chút hơi ấm thơm tho của lòng mẹ. Tôi đã không làm thế. Để rồi, khi qua đảo Palawan, nhớ mẹ, nhớ em, tôi làm thơ tự hỏi:

Mẹ tôi giờ nầy còn khóc nữa hay không
Hay cố ngủ để chiêm bao giờ hạnh ngộ
Em tôi đứng thập thò trên góc phố
Đợi anh về dù chỉ mới ra đi
Người con gái tôi yêu ở tuổi xuân thì
Có về lại, một lần, thăm phố vắng
Sài Gòn bây giờ trời mưa hay nắng ….
(Bài Thơ Tháng Tư, thơ Trần Trung Đạo)

Mười mấy năm sau, những vần thơ của Đỗ Trung Quân đã làm tôi nghĩ về quê hương như là mẹ.

Quê hương mỗi người chỉ một
Như là chỉ một mẹ thôi
(Bài Học Đầu Cho Con – Đỗ Trung Quân)

Vâng, Đỗ Trung Quân viết đúng, quê hương mỗi người chỉ một. Việt Nam là quê hương của tất cả chúng ta. Không có quê hương của người quốc gia hay quê hương của người cộng sản. Không có quê hương tư sản hay quê hương vô sản. Quê hương vẫn còn có đó và sẽ mãi mãi còn đó cho ngàn đời sau. Quê hương là mẹ. Trong lòng mẹ không có hận thù, không có xích xiềng, không có lao tù ngăn cách. Mẹ là mẹ của tất cả chúng ta cũng như Việt Nam là quê hương của tất cả chúng ta.

Thế nhưng, tại sao tôi, các bạn và cả hai triệu người Việt khác đều đã bỏ quê hương mà ra đi. Ai cũng có thể trả lời được, chúng ta ra đi vì tự do. Quê hương đẹp và đáng yêu nhưng không thể ở lại. Quê hương thật sự mà chúng ta đang có không phải là quê hương như Đỗ Trung Quân đã viết.

Quê hương không bao giờ đủ nghĩa nếu sống trên một quê hương mà ở đó con người bị đối xử như con vật. Sống trên một quê hương mà ở đó con người không có quyền nói những điều họ muốn nói, hát những bài hát họ yêu thích, viết những dòng thơ họ muốn viết. Hai mươi bảy năm qua, những người Cộng Sản đã mang chiếc áo độc tài vong bản choàng lên thân thể đau thương, ốm o, gầy guộc của mẹ Việt Nam, biến thánh địa của thương yêu thành một ngục tù của thù hận. Đỗ Trung Quân chẳng lẽ không thấy ra điều đó. Phần đầu của bài thơ Bài Học Đầu Cho Con của Đỗ Trung Quân:

Quê hương là gì hở mẹ
Mà cô giáo dạy phải yêu
Quê hương là gì hở mẹ
Ai đi xa cũng nhớ nhiều
Quê hương là chùm khế ngọt
Cho con trèo hái mỗi ngày
Quê hương là đường đi học
Con về rợp bướm vàng bay
Quê hương là con diều biếc
Tuổi thơ con thả trên đồng
Quê hương là con đò nhỏ
Êm đềm khua nước ven sông
Quê hương là cầu tre nhỏ
Mẹ về nón lá nghiêng che
Là hương hoa đồng cỏ nội
Bay trong giấc ngủ đêm hè
Quê hương là vòng tay ấm
Con nằm ngủ giữa mưa đêm
Quê hương là đêm trăng tỏ
Hoa cau rụng trắng ngoài thềm
Quê hương là vàng hoa bí
Là hồng tím giậu mồng tơi
Là đỏ đôi bờ dâm bụt
Màu hoa sen trắng tinh khôi

Mặc dù bài thơ được viết sau 1975 nhưng bối cảnh của bài thơ thuộc về một thời xa xôi trong ký ức của Đỗ Trung Quân. Thời còn những đêm trăng tỏ, còn những hoa bí vàng. Thời mà cuộc chiến chưa trở nên ác liệt. Thời mà bộ chính trị đảng CSVN chưa quyết định “giải phóng miền Nam bằng con đường vũ lực”. Thời mà Hồ Chí Minh và nhà cầm quyền Hà Nội chưa xua tuổi thơ miền Bắc lên đường đi giết tuổi thơ miền Nam.

Tuổi thơ Việt Nam sau 1975 làm gì có thời gian để leo lên chùm khế ngọt, để thả con diều biếc, để thảnh thơi đường về rợp bóng vàng bay như Đỗ Trung Quân đã viết. Các em không có đủ thì giờ để làm “kế hoạch nhỏ”, để “học tập năm điều bác Hồ dạy” thì lấy đâu thời gian mà nhìn hoa cau rụng trắng ngoài thềm.

Tuổi thơ Việt Nam sau 1975 là tuổi thơ của những buổi trưa sắp hàng chờ từng chén cơm thừa canh cặn trong các cửa hàng ăn uống. Tuổi thơ Việt Nam sau 1975 là tuổi thơ của đói khát trên vùng Kinh Tế Mới, là tuổi thơ đứng tiễn đưa cha lên đường đi vào những trại tập trung xa xôi không hẹn ngày về, là tuổi thơ của những ngày lao động đào kinh, đắp đập. Tuổi thơ Việt Nam là đám trẻ đáng thương mà tôi đã gặp ở khu kinh tế mới Đồng Xoài, Bù Đóp, Bù Đăng mà tôi có viết trong bài thơ Những Ngày Ở Lại Sài Gòn:

Những ngày tôi sống ở đây
Tôi đã đi qua những con đường cháy nắng
Những con đường không một bóng cây xanh
Kinh tế mới Đồng Xoài, Bù Đóp, Bù Đăng
Những đứa trẻ mồ côi
Không quần ngồi giữa chợ
Cúi nhặt từng vi cá đuôi tôm
Hỏi cha mẹ em đâu
Em nhìn lên hướng núi
Hỏi về đâu đêm nay
Em nhìn mây không nói
Tôi muốn ôm chặt lấy em
Để nói với em lời tạ tội
Khổ của em là lỗi của chúng anh
Những con chim đầu đàn gãy cánh
(Những Ngày Ở Lại Sài Gòn - Trần Trung Đạo )

Quê hương là Mẹ. Vâng. Nhưng chỉ có Mẹ thôi thì cũng không đủ nhân tố để làm nên một cuộc đời khác, không đủ yếu tố để tạo nên hạnh phúc. Mẹ có đó còn Cha thì đâu? Theo tôi, Cha chính là TỰ DO. Cha quan trọng, Cha đáng yêu và đáng thương như con gà trống ốm trong thơ Trần Hoài Thư khi anh viết về Cha của anh:

Bao năm sau, tôi cũng đành bỏ Huế
Con gà kia, già quá, sao cam
Chiếc áo lương đen, chiéc áo thọ đường
Chiếc áo xám, chiếc dù đen, đã mất
Tháng Ba, Ba xa, nằm trong lòng đất
Tháng Tư tôi lên, đồi núi gào kêu
Quê người đây, mây lũng nặng ban chiều
Tôi ôm mặt biết thêm đời mất mát.
(Giữ chút mong manh – Thơ Trần Hoài Thư )

Tôi đã bỏ MẸ đi tìm CHA. Hai triệu người Việt Nam cũng đã bỏ MẸ đi tìm CHA. Tiếng gọi của CHA hay sự thôi thúc của Tự Do đã làm bao nhiêu triệu con người trên thế giới đã và đang sẵn sàng để chết vì hai chữ thiêng liêng đó. Chúng tôi theo CHA nhưng không quên MẸ, sẽ không bao giờ quên MẸ. Chúng tôi đi nhưng nguyện sẽ trở về với MẸ. Ngày nào MẸ có CHA, như quê hương có Tự Do, thì quê hương mới thật sự là một nơi để sống và để chết. Có quê hương mà không có Tự Do giống như có MẸ mà không có CHA như ông bà ta thường nói “Con không CHA như nhà không nóc”. Nghĩ như thế, cơn xúc động vì bài thơ của Đỗ Trung Quân bỗng dưng lắng xuống. Tôi đứng dậy, rời chiếc ghế đá, để tiếp tục hành trình mình đã và đang đi.

(Trần Trung Đạo)

Văn chương

  NHÌN ĐÂU CŨNG THẤY MÀU TRONG TRẮNG TÀ ÁO BAY KÌA CON NGÕ XƯA Áo trắng ngày xưa trong trắng Huế,  Tóc thề xanh mướt trắng mây sương... D...